Hôm nay ngày 13/12/2018, 1:30:39 PM GMT+7
Tìm kiếm | Đăng nhập

THÔNG TIN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUÝ III/2018
-
+

THÔNG TIN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUÝ III/2018(03/10/2018 14:10:05 GMT+7)
Thông tin về các hoạt động, kết quả và chỉ đạo/điều hành tiêu biểu của ngành Giáo dục trong quý III/2018

THÔNG TIN TRONG SỐ NÀY

1. Thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác giáo dục đào tạo Việt Nam - LB Nga; Việt Nam - Hungary

2. Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học sẽ được xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2018)

3. Hoàn thành thẩm định chương trình giáo dục phổ thông mới 

4. Hội thảo “5 năm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo - những thành tựu và thách thức”

5. Kết quả sau 2 năm thực hiện chuyên đề "Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm, giai đoạn 2016-2020”

6. Về tài liệu Tiếng Việt lớp 1 - Công nghệ giáo dục

7. Về việc sử dụng sách giáo khoa để tránh lãng phí

8. Học sinh Việt Nam giành thành tích ấn tượng tại các kỳ thi Olympic quốc tế năm 2018

9. Tổng hợp kết quả tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2018

10. Một số chỉ đạo, điều hành nổi bật trong quý

Thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác giáo dục đào tạo Việt Nam - LB Nga; Việt Nam – Hungary

 

        Từ ngày 5-11/9/2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thăm chính thức Liên bang Nga (LB Nga) và Hungary theo lời mời của Tổng thống LB Nga Vladimir Putin và Thủ tướng Hungary Viktor Orban. Trong khuôn khố chuyến thăm, nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy hợp tác giáo dục, đào tạo giữa Việt Nam - LB Nga, Việt Nam - Hungary đã diễn ra, nhiều thỏa thuận hợp tác đã được ký kết, mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, tào tạo giữa Việt Nam với LB Nga và Hungary.

* Tại LB Nga, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ đã có các cuộc gặp và làm việc với Bộ trưởng Bộ Giáo dục LB Nga Olga Vasilieva và Thứ trưởng thường trực Bộ Khoa học và Đào tạo Đại học LB Nga Marina Alexandrovna để thảo luận tăng cường hợp tác giáo dục, đào tạo giữa hai nước.

Tại các buổi làm việc, hai bên nhất trí tăng cường trao đổi sinh viên, học sinh giữa hai nước; tăng cường hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học dựa trên thế mạnh và nhu cầu của hai bên; thúc đẩy việc giảng dạy tiếng Nga tại Việt Nam và tiếng Việt Nam tại LB Nga; xây dựng trung tâm bồi dưỡng tài năng trẻ của Việt Nam trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên; phối hợp triển khai hiệu quả chương trình học bổng Hiệp định Chính phủ giữa hai nước.

Bộ GD&ĐT Việt Nam và Bộ Giáo dục, Bộ Khoa học và Đào tạo Đại học LB Nga cũng nhất trí nhanh chóng xây dựng chương trình hợp tác giai đoạn 2019-2021. Đồng thời, xem xét luân phiên tổ chức hàng năm Hội nghị Hiệu trưởng Việt Nam - LB Nga để thúc đẩy các hoạt động hợp tác về giáo dục đại học giữa hai nước; xem xét khả năng lập các phân hiệu của các trường đại học LB Nga tại Việt Nam.

Trước sự chứng kiến của lãnh đạo Bộ GD&ĐT Việt Nam và lãnh đạo Bộ Khoa học và Đào tạo Đại học LB Nga, đã có 23 văn bản hợp tác được ký kết giữa các trường đại học của hai nước nhằm đẩy mạnh hợp tác về đào tạo, nghiên cứu khoa học, trao đổi giảng viên, sinh viên.

* Tại Hungary, Hội nghị Hiệu trưởng Việt Nam - Hungary lần thứ hai đã được tổ chức với sự tham gia của 30 trường đại học của Việt Nam và 20 trường đại học của Hungary nhằm tiếp tục mở rộng quan hệ, thúc đẩy hợp tác sâu rộng giữa các trường đại học của hai nước, góp phần cụ thể hoá và triển khai hiệu quả hơn nữa các cam kết hợp tác về giáo dục và đào tạo đã được ký kết giữa hai nước. Việc có tới 15 văn bản hợp tác được ký kết giữa các trường đại học Việt Nam và Hungary ngay tại Hội nghị lần này so với 02 văn bản được ký kết tại Hội nghị lần trước là minh chứng cho thấy sự quan tâm của các trường đại học trong việc khai thác tiềm năng và cơ hội hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa hai nước.

Phát biểu tại Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, Hội nghị Hiệu trưởng các trường đại học Việt Nam - Hungary là một cơ chế hợp tác quan trọng và rất thiết thực giữa các đồng nghiệp trong ngành giáo dục và đào tạo hai nước. Đồng thời, đánh giá cao sự phối hợp của hai bộ chức năng của hai nước trong việc tổ chức Hội nghị Hiệu trưởng các trường đại học Việt Nam và Hungary lần thứ hai, với mục đích phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác giữa các trường đại học của cả hai nước, góp phần cụ thể hóa và triển khai hiệu quả các văn kiện hợp tác đã được ký kết giữa hai bên. Tổng Bí thư khẳng định, Việt Nam sẽ luôn ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi và tích cực hỗ trợ các trường đại học hai nước triển khai hiệu quả các nội dung hợp tác trong tương lai.

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ cho rằng, hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo chính là cầu nối quan trọng góp phần tăng cường mối quan hệ hợp tác lâu bền giữa hai quốc gia, làm sâu sắc thêm tình đoàn kết giữa hai dân tộc và nhân dân hai nước. Bộ trưởng hy vọng và tin tưởng, những ý tưởng, đề xuất và cam kết giữa các trường đại học tại Hội nghị sẽ thúc đẩy hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa Hungary và Việt Nam sẽ phát triển mạnh hơn trong thời gian tới.

Cũng tại Hungary, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã có cuộc hội kiến với Bộ trưởng Nguồn nhân lực Hungary József Bosdis. Tại buổi hội kiến, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã đề nghị Hungary tạo điều kiện sử dụng hết 200 suất học bổng được cấp hàng năm cho Việt Nam; ưu tiên cấp học bổng cho những người đã từng học tập ở Hungary, hiện đang công tác tại các trường đại học, viện nghiên cứu và mong muốn tiếp tục học tập ở trình độ cao hơn; tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc cấp visa cho lưu học sinh Việt Nam.

Bộ trưởng József Bosdis đồng tình với các ý kiến của Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, cam kết sẽ thúc đẩy việc sử dụng có hiệu quả số lượng học bổng dành cho công dân Việt Nam, đồng thời sẽ phối hợp chặt chẽ với Đại sứ quán Hungary tại Việt Nam đẩy nhanh việc cấp visa cho lưu học sinh Việt Nam. Ngoài ra, hai bên cũng thống nhất sẽ thúc đẩy kết nối giữa các trường đại học và doanh nghiệp, tạo điều kiện cho sinh viên hai nước được học tập, làm việc sau khi ra trường.

 

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học sẽ được xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2018)

 

Ngày 8/8, tại phiên họp thứ 26, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thảo luận cho ý kiến về một số vấn đề còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Giáo dục (sửa đổi) và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học.

Theo đó, dự án Luật Giáo dục (sửa đổi) được xem xét sửa đổi toàn diện, cần có thêm thời gian để tiếp tục nghiên cứu, lấy ý kiến rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, nhất là với một số vấn đề còn ý kiến khác nhau như kỳ thi THPT quốc gia, không thu học phí bậc THCS…, vì vậy Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định lùi thời gian thông qua dự án Luật vào Kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2019) thay cho kế hoạch ban đầu là thông qua tại Kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2018).

Về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học, các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội đánh giá, dự thảo đã tiếp thu tương đối đầy đủ các ý kiến của các đại biểu Quốc hội, chuyên gia, nhà khoa học và cử tri, tuy nhiên, Ban soạn thảo cần nghiên cứu, điều chỉnh nội dung một số điều trong dự thảo Luật theo hướng ngắn gọn, xúc tích hơn.

Một số ý kiến đại biểu đề nghị định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước trong điều kiện thực hiện tự chủ của các trường đại học và tách bạch giữa quản lý nhà nước và quản trị của cơ sở giáo dục đại học; xem xét xóa bỏ cơ chế chủ quản đối với trường đại học; tái cấu trúc mạng lưới theo hướng tinh gọn, hiệu quả; quy định rõ về xếp hạng đại học theo thông lệ quốc tế, có cơ chế cho chuyển đổi mục đích hoạt động của các loại hình trường.

Ngoài ra, các nội dung liên quan đến trách nhiệm của Nhà nước, quản lý Nhà nước đối với giáo dục đại học; tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình của các nhà trường; mô hình hệ thống cơ sở giáo dục đại học; trần học phí; việc thành lập Hội đồng trường… cũng được các thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội quan tâm, cho ý kiến.

Phát biểu kết thúc phiên họp, Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng đề nghị các cơ quan hữu quan tiếp thu ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội; đề nghị Ủy ban thẩm tra và Ban soạn thảo tiếp tục phối hợp, rà soát kỹ các nội dung sửa đổi để hoàn chỉnh hồ sơ dự án Luật trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV.

Dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học được xây dựng nhằm tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng, Nhà nước, tạo sự đổi mới đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Đảm bảo tính toàn diện, có trọng tâm trọng điểm. Đảm bảo tính thực tiễn, thiết thực, khả thi, giải quyết được những vấn đề “nút thắt” trong thực tiễn, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, đẩy mạnh tự chủ đại học, huy động các nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển giáo dục đại học. Đồng thời, đảm bảo tính kế thừa, phát triển và hội nhập, phù hợp với xu hướng phát triển giáo dục đại học trên thế giới.

4 nhóm chính sách cơ bản thể hiện trong dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học gồm: Mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả tự chủ đại học; đổi mới quản trị đại học; đổi mới quản lý đào tạo; đổi mới quản lý nhà nước trong điều kiện tự chủ đại học.

 

Hoàn thành thẩm định chương trình giáo dục phổ thông mới 

 

Tiếp tục triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới, trong quý III/2018, Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông đã tiến hành thẩm định theo quy định tại Thông tư số 14/TT/2017/BGDĐT ngày 06/6/2017 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. Đến nay, các chương trình môn học, hoạt động giáo dục đã được Hội đồng quốc gia thẩm định thông qua. Bộ GD&ĐT đang thực hiện các thủ tục theo quy định để ban hành Thông tư về Chương trình giáo dục phổ thông mới.

Sau khi chương trình được ban hành, Bộ GD&ĐT sẽ tập trung chỉ đạo việc tổ chức biên soạn một bộ sách giáo khoa bảo đảm công khai, minh bạch; tổ chức thẩm định sách giáo khoa (gồm bộ sách giáo khoa do Bộ GD&ĐT chỉ đạo tổ chức biên soạn và các sách giáo khoa khác do tổ chức, cá nhân biên soạn); hướng dẫn biên soạn tài liệu giáo dục của địa phương; phê duyệt, cho phép sử dụng sách giáo khoa dựa trên kết quả thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa; xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn cơ sở giáo dục phổ thông lựa chọn, sử dụng sách giáo khoa để dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới.

Ban hành chuẩn nghề nghiệp giảng viên sư phạm và các chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông thống nhất trong cả nước theo các chuẩn, tiêu chuẩn giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý đã ban hành; xây dựng và triển khai hệ thống đào tạo, bồi dưỡng giáo viên qua mạng trên phạm vi cả nước; phối hợp với các địa phương tổ chức bồi dưỡng giáo viên bảo đảm đồng bộ, đồng tốc với lộ trình thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới. Tổ chức rà soát, hoàn thiện các chính sách về nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nhằm tạo thuận lợi và động lực cho cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới.

Bộ GD&ĐT sẽ hướng dẫn các địa phương triển khai Đề án bảo đảm cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tổ chức rà soát, điều chỉnh các chuẩn, tiêu chuẩn về cơ sở vật chất trường lớp học phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông mới và điều kiện của địa phương; ban hành danh mục thiết bị giáo dục tối thiểu theo chương trình giáo dục phổ thông mới; hướng dẫn các địa phương mua sắm bàn ghế phù hợp với lứa tuổi học sinh và chương trình, sách giáo khoa mới.

Trong thời gian chưa thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới, Bộ GD&ĐT hướng dẫn các cơ sở giáo dục phổ thông thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học chương trình giáo dục phổ thông hiện hành và đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá và quản lý quá trình giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học, từ đó tạo thuận lợi cho học sinh và giáo viên khi chuyển sang thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới.

 

Hội thảo “5 năm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo - những thành tựu và thách thức”

 

Ngày 18/9, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “05 năm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: Thành tựu và thách thức”. Hội thảo là dịp để các nhà quản lý và các nhà khoa học đánh giá tổng quan về những thành tựu và thách thức sau 5 năm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Nguồn dữ liệu được ĐHQGHN tập hợp từ các bộ, ngành và các cơ quan trong khoảng thời gian 5 năm. Đồng thời tiến hành thu thập thông tin của hơn 2500 cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên từ bậc mầm non đến đại học; trao đổi, phỏng vấn với trên 200 cán bộ lãnh đạo, quản lý và các chuyên gia của các cơ quan trung ương, bộ, ngành; gần 1000 học sinh và sinh viên, 500 cha mẹ học sinh.

 Nhóm nghiên cứu đã tập trung khảo sát, làm rõ và đánh giá những thay đổi, chuyển biến của nền giáo dục dưới tác động của Nghị quyết 29. Trong khuôn khổ Hội thảo, nhóm nghiên cứu đã tập trung đánh giá 3 vấn đề nổi bật: Những đổi mới và chuyển biến trong giáo dục phổ thông; những đổi mới trong phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo; vấn đề tự chủ của các trường đại học.

Đối với giáo dục phổ thông: Nhóm nghiên cứu đã ghi nhận sự chuyển biến trong nhận thức xã hội về giáo dục phổ thông; sự chuyển dịch của các chính sách theo hướng tăng cường đảm bảo chất lượng; chuyển dịch về phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo năng lực, trong đó nhấn mạnh tới kĩ năng và ứng dụng thực tiễn; đầu tư cho giáo dục phổ thông được tăng cường.

Chất lượng giáo dục phổ thông của Việt Nam được đánh giá tiệm cận chuẩn thế giới. Năm 2018, Ngân hàng thế giới công bố Việt Nam có hệ thống giáo dục phát triển ấn tượng nhất trong khu vực Đông Á - Thái Bình Dương. Học sinh phổ thông Việt Nam nằm trong nhóm có thành tích học tập cao nhất ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dương. Các đoàn học sinh Việt Nam tham dự Olympic quốc tế và khu vực, thi khoa học kỹ thuật quốc tế đều đạt kết quả ấn tượng.

Về đổi mới kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực: Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra những nỗ lực đáng ghi nhậntrong ban hành các chính sách của Bộ GD&ĐT. Theo đó, bậc tiểu học chuyển trọng tâm đánh giá từ định tính sang định lượng; bậc trung học và đại học chú trọng đánh giá theo quá trình, bám sát chuẩn đầu ra; duy trì triết lý kiểm tra đánh giá vì sự phát triển năng lực của học sinh. Việt Nam đã tham gia vào các kì thi đánh giá diện rộng quốc tế PISA, PASEC. Kỳ thi THPT Quốc gia đánh giá toàn diện được quá trình học tập của học sinh, giảm áp lực xã hội, hình thức thi phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam.

Về tự chủ đại học: Nhóm nghiên cứu đánh giá, tự chủ đại học đã trở thành nhu cầu tự thân của các trường đại học, được xem là chìa khóa nâng cao chất lượng đào tạo. Các cơ sở giáo dục đại học được tự chủ trong tuyển sinh, mở ngành đào tạo, liên kết đào tạo, tự chủ về tài chính, nhân sự, chủ động hơn trong việc quyết định hướng nghiên cứu và tham gia các nhiệm vụ khoa học công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học. Văn hóa chất lượng được hình thành và phát triển, tạo sự cạnh tranh về chất lượng, tiếp cận tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Năm 2018, lần đầu tiên Việt Nam có 2 trường đại học nằm trong tốp 1000 trường đại học tốt nhất thế giới.

Nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra những thách thức cơ bản trong quá trình triển khai Nghị quyết 29 như sự thiếu đồng bộ và chậm trễ trong việc ban hành các chính sách hoặc thực hiện các đề án; nguồn lực tài chính còn hạn chế; năng lực đội ngũ nhà giáo các cấp chưa theo kịp với tiến trình đổi mới… Đồng thời khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý, trong đó, các vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách; hoàn thiện hệ thống văn bản; sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương; công tác truyền thông… là những khuyến nghị rất cần được quan tâm để tiếp tục triển khai Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo trong thời gian tới.

Kết quả sau 2 năm thực hiện chuyên đề "Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm, giai đoạn 2016-2020”

Nhằm đẩy mạnh đổi mới hoạt động chăm sóc, giáo dục nâng cao chất lượng thực hiện chương trình giáo dục mầm non, ngày 25/01/2017, Bộ GD&ĐT đã ban hành Kế hoạch số 56/KH-BGDĐT chỉ đạo các Sở GD&ĐT tích cực triển khai chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016-2020. Sau 2 năm triển khai, toàn quốc có 14277/15394 cơ sở giáo dục mầm non thực hiện chuyên đề, đạt 92,74%. Trong đó, có 244/14277 cơ sở giáo dục mầm non được chọn chỉ đạo mô hình điểm cấp tỉnh; 2247/14277 cơ sở giáo dục mầm non được chọn chỉ đạo mô hình điểm cấp huyện.

Kết quả cho thấy, các cơ sở giáo dục mầm non đã thay đổi rõ rệt. Môi trường giáo dục được xây dựng, phát triển đúng định hướng của quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Việc xây dựng kế hoạch giáo dục linh hoạt, phù hợp với thực tế. Phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ được đổi mới. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, cha mẹ trẻ về quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm và việc xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm được nâng lên, năng lực của cán bộ quản lý, giáo viên mầm non được cải thiện rõ rệt.

Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ được thể hiện trong việc đa dạng các hình thức tuyên truyền tới cộng đồng, cha mẹ trẻ về vị trí, vai trò của giáo dục mầm non và hướng dẫn chăm sóc, giáo dục trẻ tại gia đình, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1; tạo điều kiện để các bậc cha mẹ tham gia vào hoạt động của trường, lớp; phối hợp với gia đình, cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ dân tộc thiểu số và trẻ có hoàn cảnh khó khăn.

Tiếp tục triển khai chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016-2020, năm học 2018-2019, các địa phương sẽ chú trọng triển khai thực hiện chủ đề: “Xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực và tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp với điều kiện của địa phương, trường, lớp, khả năng và nhu cầu của trẻ, tăng cường cho trẻ thực hành, trải nghiệm phát triển toàn diện trong các cơ sở giáo dục mầm non”.

Bên cạnh đó, tiếp tục nghiên cứu các giải pháp để thực hiện các nội dung của chuyên đề gắn với việc nâng cao chất lượng thực hiện chương trình tại các cơ sở giáo dục, triển khai các nội dung của chuyên đề linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế. Cụ thể hóa bộ tiêu chí xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm phù hợp với điều kiện địa phương, đánh giá, rút kinh nghiệm, phát hiện và nhận rộng những điển hình tiên tiến có chất lượng.

 

Về tài liệu Tiếng Việt lớp 1 - Công nghệ giáo dục

Vừa qua, dư luận xã hội dành sự quan tâm rất lớn cho tài liệu Tiếng Việt lớp 1 - Công nghệ giáo dục (TV1-CNTV). Để dư luận hiểu rõ nguồn gốc tài liệu, quá trình triển khai thí điểm, đặc biệt là sự thận trọng của Bộ GD&ĐT trong việc tổ chức thẩm định, chỉ đạo chỉnh sửa, hoàn thiện tài liệu, Bộ GD&ĐT đã nêu quan điểm xung quanh tài liệu TV1- CNGD. Cụ thể như sau:

Tài liệu TV1- CNGD là kết quả nghiên cứu từ năm 1978 của một số nhà khoa học, đứng đầu là GS.TSKH Hồ Ngọc Đại thông qua các đề tài nghiên cứu và được áp dụng vào dạy học ở Trường Thực nghiệm Giảng Võ, Hà Nội. Căn cứ kết quả nghiên cứu và áp dụng thí điểm tại trường Thực nghiệm và một số cơ sở giáo dục, Bộ GD&ĐT đồng ý cho các địa phương có nhu cầu và đảm bảo các điều kiện được áp dụng dạy học Tiếng Việt lớp 1, nhất là ở những vùng khó từ năm học 2008-2009 đến năm học 2016-2017 trên tinh thần tự nguyện của các địa phương.

Cuối năm 2016, tiếp thu ý kiến của Đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV, Bộ Trưởng Bộ GD&ĐT đã giao cho Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (KHGD) nghiên cứu, khảo sát, đánh giá chất lượng, hiệu quả triển khai Tài liệu TV1-CNGD và đề xuất các giải pháp chỉ đạo.

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, khảo sát, Viện KHGD Việt Nam đánh giá việc triển khai Tài liệu TV1-CNGD ở các địa phương đạt được hiệu quả khả quan thông qua kết quả giáo dục học sinh, năng lực chuyên môn của giáo viên và đề xuất các giải pháp để tiếp tục sử dụng hiệu quả Tài liệu TV1- CNGD. Trong báo cáo, Viện KHGD Việt Nam đề nghị Bộ GD&ĐT tổ chức Hội đồng thẩm định Tài liệu TV1-CNGD theo quy định và đề nghị các tác giả tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện Tài liệu để đáp ứng nhu cầu của các địa phương.

Trong năm 2017 và 2018, nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt lớp 1, cùng với việc rà soát, tinh giảm các nội dung chưa phù hợp với học sinh trong sách giáo khoa hiện hành, Bộ GD&ĐT đã tổ chức Hội đồng thẩm định quốc gia Tài liệu TV1- CNGD. Sau 2 vòng thẩm định, Hội đồng thẩm định đã đánh giá: Tài liệu TV1- CNGD về cơ bản đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu, chuẩn kiến thức kĩ năng của môn Tiếng Việt lớp 1 trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học. Tài liệu TV1- CNGD đã được các tác giả chỉnh sửa, hoàn thiện theo kết luận của Hội đồng thẩm định.

Căn cứ kết quả khảo sát, đánh giá của Viện KHGD Việt Nam và ý kiến kết luận của Hội đồng thẩm định, Bộ GD&ĐT hướng dẫn các sở GD&ĐT triển khai Tài liệu TV1-CNGD phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương trên nguyên tắc tự nguyện của nhà trường trong năm học 2017-2018 và năm học 2018-2019 ở những nơi đang triển khai và không mở rộng để giữ ổn định cho đến khi thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới.

Tài liệu TV1-CNGD là một trong những phương án để các địa phương lựa chọn nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 trong Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, nhất là với học sinh vùng khó, vùng dân tộc thiểu số.

Khi chương trình giáo dục phổ thông mới được ban hành, với chủ trương “một chương trình nhiều sách giáo khoa”, tất cả các tài liệu dạy học được đưa vào nhà trường với tư cách là sách giáo khoa đều phải được Hội đồng quốc gia thẩm định. Căn cứ vào kết luận và đề xuất của Hội đồng thẩm định quốc gia, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT sẽ phê duyệt danh mục sách giáo khoa (theo Chương trình giáo dục phổ thông mới) được phép sử dụng trong các cơ sở giáo dục. Trên cơ sở đó, căn cứ vào các quy định, các cơ sở giáo dục được phép lựa chọn sách giáo khoa phù hợp.

 

Về việc sử dụng sách giáo khoa để tránh lãng phí

Thời gian qua, dư luận xã hội phản ánh tình trạng một số sách giáo khoa (SGK) phổ thông do có in phần bài tập và học sinh làm bài tập trực tiếp trong sách dẫn tới việc chỉ dùng được một lần, gây lãng phí. Để chấn chỉnh vấn đề này, ngày 24/9/2018, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Chỉ thị số 3798/CT-BGDĐT về việc sử dụng sách giáo khoa và sách tham khảo trong các cơ sở giáo dục phổ thông.

Chỉ thị nêu rõ, thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, Chính phủ đã giao cho Bộ GD&ĐT xây dựng chương trình, tổ chức biên soạn SGK để thực hiện trên phạm vi cả nước từ năm học 2002-2003. Khi biên soạn SGK, các tác giả đã thiết kế một số bảng số liệu để trống nhằm hướng dẫn học sinh tiến hành các thí nghiệm; xây dựng hệ thống bài tập đa dạng về hình thức (tự luận, trắc nghiệm, điền khuyết, nối đôi) nhằm rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy phù hợp với từng nội dung kiến thức, hướng dẫn học sinh tự học, đồng thời giúp học sinh làm quen với các dạng bài tập khác nhau trong kiểm tra, đánh giá theo xu thế chung của các nước trên thế giới

Để học sinh không viết vào SGK trong quá trình thực hiện các hoạt động học, Bộ GD&ĐT đã yêu cầu các cơ sở giáo dục phổ thông và giáoviên hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa, nhắc nhở học sinh có ý thức giữ gìn, không được viết, vẽ vào sách để sử dụng SGK được lâu bền. Tuy nhiên, việc sử dụng lại SGK hiện mới đạt khoảng 35%.Để nâng cao hiệu quả sử dụng SGK, tăng tỉ lệ SGK được sử dụng lại nhiều lần, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT yêu cầu:

Giám đốc các sở GD&ĐT chỉ đạo các phòng giáo dục và đào tạo, các cơ sở giáo dục phổ thông ở địa phương chỉ đạo giáo viên tiếp tục thực hiện nghiêm hướng dẫn tại Công văn số 6176/TH ngày 19/7/2002, Công văn số 7590/GDTH ngày 27/8/2004, Công văn số 2372/BGDĐT-GDTrH ngày 11/4/2013 của Bộ GD&ĐT; tổ chức quán triệt đến từng cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh về việc giữ gìn, bảo quản SGK để sử dụng và sử dụng lại lâu bền; hướng dẫn học sinh nghiên cứu SGK để thực hiện các hoạt động học và ghi kết quả học tập vào vở; không viết, vẽ vào SGK.

Tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các trường hợp cán bộ quản lý, giáo viên vi phạm quy định tại Thông tư số 21/2014/TT-BGDĐT ngày  07/7/2014 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định về quản lý và sử dụng xuất bản phẩm tham khảo trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên, khiến cho học sinh phải mua quá nhiều xuất bản phẩm tham khảo nhưng sử dụng không hiệu quả, gây lãng phí. Phối hợp với các ban, ngành liên quan tổ chức thanh tra, kiểm tra việc sử dụng SGK và xuất bản phẩm tham khảo trong các cơ sở giáo dục phổ thông; xử lý vi phạm theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm.

Tổng Giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tổ chức rà soát, đánh giá cụ thể việc in ấn, phát hành SGK hiện hành để có phương án chỉnh sửa bản thảo SGK nhằm hạn chế tối đa việc học sinh ghi vào SGK trong quá trình học tập; báo cáo Bộ GD&ĐT về kết quả rà soát, đánh giá và phương án chỉnh sửa bản thảo SGK trước khi tái bản.

Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học và thủ trưởng các đơn vị liên quan thuộc Bộ GD&ĐT chủ động nắm tình hình và xây dựng kế hoạch chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện Chỉ thị này ở các địa phương. Chánh Thanh tra Bộ GD&ĐT hướng dẫn, chỉ đạo thanh tra giáo dục các cấp tiến hành thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Chỉ thị này.

 

Học sinh Việt Nam giành thành tích ấn tượng tại các kỳ thi Olympic quốc tế năm 2018

Tiếp nối thành tích của các đoàn học sinh Việt Nam tham dự Olympic Châu Á, các đoàn học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi Olympic quốc tế năm 2018 tiếp tục mang về thành tích ấn tượng. Đội tuyển Toán học 6/6 học sinh giành huy chương, trong đó có 1 Huy chương Vàng, 2 Huy chương Bạc và 3 Huy chương Đồng; đội tuyển Vật lý 5/5 học sinh giành huy chương, gồm: 2 Huy chương Vàng, 2 Huy chương Bạc và 1 Huy chương Đồng; đội tuyển Hóa học 4/4 học sinh giành huy chương, gồm: 1 Huy chương Vàng, 2 Huy chương Bạc và 1 Huy chương Đồng.

Đặc biệt, năm 2018 đội tuyển Olympic quốc tế Sinh học và Tin học đã mang về kết quả cao nhất từ trước đến nay. Lần đầu tiên đội tuyển Sinh học giành 3 Huy chương Vàng, 1 Huy chương Bạc trong một kỳ Olympic quốc tế, trong đó em Nguyễn Phương Thảo (học sinh lớp 12, Trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) là thí sinh đạt tổng điểm cao nhất cuộc thi. 4/4 học sinh đội tuyển Olympic Tin học giành huy chương, gồm: 1 Huy chương Vàng, 1 Huy chương Bạc và 2 Huy chương Đồng.

Thành tích của các đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế năm 2018 đã khép lại một mùa Olympic khu vực và quốc tế thành công với 38/38 thí sinh dự thi đoạt Huy chương (13 Huy chương Vàng, 14 Huy chương Bạc, 11 Huy chương Đồng). Kết quả này tiếp tục khẳng định vị thế của học sinh Việt Nam trên đấu trường trí tuệ quốc tế. Khẳng định hướng đi đúng của ngành Giáo dục, sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Bộ GD&ĐT trong công tác tuyển chọn, bồi dưỡng học sinh giỏi. Đặc biệt khẳng định nỗ lực cố gắng của các nhà trường, các em học sinh, các thầy cô giáo trong thời gian qua.

 

Tổng hợp kết quả tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2018

Theo thống kê của Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT), năm 2018, có tổng số 381 đơn vị (trường, phân hiệu, cơ sở) tổ chức tuyển sinh, trong đó 155 cơ sở tuyển sinh sư phạm. Số đơn vị sử dụng kết quả thi THPT quốc gia là 350, 31 đơn vị sử dụng phương thức khác. Tổng chỉ tiêu tuyển sinh năm 2018 là 455.174 chỉ tiêu, trong đó có 35.590 chỉ tiêu sư phạm, trong khi tổng số thí sinh đăng ký xét tuyển là 688.466, trong đó có 128.248 xét vào các ngành sư phạm.

Năm 2018 là năm đầu tiên các trường (trừ các cơ sở đào tạo sư phạm) được tự chủ tuyển sinh, tự xác định ngưỡng điểm đầu vào. Qua thống kê tuyển sinh đợt 1 của 2510 ngành thuộc 312 trường cho thấy, có 1431 ngành của 255 trường lấy điểm xét tuyển từ 15-20 điểm; có 584 ngành của 114 trường lấy điểm xét tuyển từ 20-25 điểm; 7 ngành của 4 trường có điểm xét tuyển từ 25 trở lên. Riêng với ngành sư phạm, Bộ GD&ĐT quy định ngưỡng: trình độ đại học 17,0 điểm;  trình độ cao đẳng 15,0 điểm; trình độ trung cấp: 13,0 điểm. Tính đến ngày 15/9, đã có 335.868 thí sinh nhập học, đạt 75,81% so với tổng chỉ tiêu.

Năm 2018, thí sinh được đăng ký xét tuyển không giới hạn số lượng nguyện vọng; đặc biệt là sau khi có điểm thi được điều chỉnh nguyện vọng để phù hợp với các điều kiện tuyển sinh, nên nâng cao khả năng trúng tuyển vào các ngành nghề theo nguyện vọng, sở trường. Quá trình tuyển sinh đảm bảo quyền tự chủ của các trường (xác định chỉ tiêu, lập đề án tuyển sinh, xác định điều kiện tuyển sinh, tham gia nhóm hay tuyển sinh độc lập; dự tính tỷ lệ ảo, xác định điểm trúng tuyển và danh sách thí sinh trúng tuyển…). Các trường đã minh bạch thông tin trong đề án tuyển sinh, cung cấp thông tin cần thiết cho thí sinh và minh bạch kết quả tuyển sinh.

Kế thừa thành công năm 2017, kỳ thi tuyển sinh 2018 đã điều chỉnh một số kỹ thuật nhỏ khắc phục hạn chế của năm 2017, áp dụng công nghệ thông tin triệt để hơn trong tất cả các khâu đăng ký dự tuyển, đăng ký xét tuyển, điều chỉnh nguyện vọng, xét tuyển, xác nhận thí sinh nhập học lên hệ thống để đảm bảo tính khoa học, khách quan, công khai, minh bạch, giảm tối đa số thí sinh ảo,…

Phần mềm tuyển sinh đã phát huy tác dụng cho thí sinh trúng tuyển vào nguyện vọng ưu tiên cao nhất và giúp các trường tăng cường kiểm soát thí sinh ảo. Ngay trong đợt 1 đã có tới 172 đơn vị tuyển đủ chỉ tiêu; nếu tính từ mức đạt 70% chỉ tiêu trở lên thì con số này lên tới 226 đơn vị (chiếm 69,54% số đơn vị tuyển sinh). Đó là con số phản ánh công tác tuyển sinh 2018 đã đạt được tiêu chí nhanh gọn, thuận lợi, nhẹ nhàng, hiệu quả,… giảm được áp lực cho đợt tuyển sinh bổ sung. 

Ban Chỉ đạo Tuyển sinh Quốc gia và các trường, nhóm trường đã phối hợp chặt chẽ trong suốt quá trình thực hiện xét tuyển, đảm bảo quy trình kỹ thuật ổn định. Hai nhóm xét tuyển chung đã thu hút nhiều thành viên (53 trường phía Bắc và 86 trường phía Nam) tham gia, phối hợp thành công để sử dụng chung nguồn tuyển và cơ sở dữ liệu tuyển sinh; đảm bảo tính thống nhất của nhóm và quyền tự chủ của các trường thành viên, cùng nhau xét tuyển và lọc ảo.        

 

Một số chỉ đạo, điều hành nổi bật trong quý

 9.1. Chỉ thị về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2018-2019 của ngành Giáo dục

Ngày 10/8/2018, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Chỉ thị số 2919/CT-BGDDT về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2018-2019 của ngành Giáo dục. Theo đó, phương hướng chung của năm học là nâng cao chất lượng giáo dục và các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục; thực hiện nghiêm kỷ cương, nền nếp, dân chủ trong trường học, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường và thực hiện tốt vệ sinh trường học; tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, ứng xử văn hóa cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục.

Giáo dục mầm non tập trung phát triển trường, lớp ở khu công nghiệp, khu chế xuất; đẩy mạnh các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước, kiên quyết chống hành vi bạo hành trẻ và khắc phục tình trạng thiếu giáo viên. Giáo dục phổ thông tiếp tục chuẩn bị các điều kiện để thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới, nhất là đối với lớp 1; nâng cao chất lượng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, đặc biệt là kỳ thi trung học phổ thông quốc gia; đổi mới cơ chế quản lý trong các trường phổ thông.

Giáo dục đại học tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tự chủ, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, hỗ trợ khởi nghiệp cho sinh viên; chuẩn hóa, tăng cường hội nhập quốc tế và yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; tăng tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm phù hợp với chuyên ngành đào tạo. Giáo dục thường xuyên tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng, các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên sau sáp nhập; chấn chỉnh các trung tâm ngoại ngữ, tin học, đào tạo từ xa hoạt động không đúng quy định; rà soát, tiếp tục thực hiện các mục tiêu của Đề án xây dựng xã hội học tập; thúc đẩy việc học tập của người lớn.

Theo Chỉ thị này, năm học 2018-2019, ngành Giáo dục sẽ tiếp tục triển khai 09 nhóm nhiệm vụ chủ yếu và 05 nhóm giải pháp cơ bản đã được triển khai từ 2 năm trước đó.

9.2. Trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục

Ngày 21/9/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 127/2018/NĐ-CP quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục. Theo đó, yêu cầu đối với việc quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục là bảo đảm tính thống nhất, thông suốt và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về giáo dục; bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm với nguồn lực tài chính, nhân sự, điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục và các điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ được giao; xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan có liên quan.

Trong đó, trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ GD&ĐT là ban hành chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và quy định chuẩn chương trình đào tạo đối với giáo dục đại học; danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; quy chế đào tạo và liên kết đào tạo. Quy định việc tổ chức biên soạn, thẩm định, phê duyệt được phép sử dụng và hướng dẫn lựa chọn tài liệu học tập, sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên; quy định về xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo đối với trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm, giáo dục đại học. Ban hành quy chế thi cử; quy định việc kiểm tra và đánh giá người học; quy định văn bằng, chứng chỉ trong hệ thống giáo dục quốc dân và việc công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho người Việt Nam. Chủ trì xây dựng hiệp định về tương đương văn bằng hoặc công nhận lẫn nhau về văn bằng với các nước, tổ chức quốc tế…

Các bộ có trách nhiệm nghiên cứu, dự báo nhu cầu nhân lực của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý để phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhân lực của ngành, lĩnh vực; thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực hợp pháp và sự tham gia của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong công tác đào tạo nguồn nhân lực của ngành, lĩnh vực được giao quản lý; chịu trách nhiệm giải trình về hoạt động và chất lượng giáo dục tại các cơ sở giáo dục trực thuộc bộ trong phạm vi quyền hạn được giao...

UBND cấp tỉnh có trách nhiệm sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục công lập thuộc phạm vi quản lý phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương; bảo đảm đủ biên chế công chức quản lý giáo dục, đủ số lượng người làm việc theo đề án vị trí việc làm được phê duyệt, đáp ứng các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, tiến tới tổ chức học 02 buổi/ngày ở giáo dục phổ thông; chịu trách nhiệm giải trình về hoạt động giáo dục, chất lượng giáo dục, quản lý đội ngũ công chức, viên chức, người lao động và người học thuộc phạm vi quản lý.

Bố trí đúng, đủ ngân sách nhà nước chi cho giáo dục tại địa phương theo quy định; quản lý, kiểm tra việc sử dụng ngân sách nhà nước chi cho giáo dục theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách hiện hành nhằm đáp ứng các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục; thực hiện thu, sử dụng học phí và các khoản thu hợp pháp khác đối với các cơ sở giáo dục công lập thuộc tỉnh; thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực hợp pháp để phát triển giáo dục tại địa phương.

Nghị định cũng quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của UBND cấp huyện, cấp xã, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, huyện, xã; trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo. Nghị định có hiệu lực từ 15/11/2018.

9.3. Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận đạt tiêu chuẩn và bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư

Ngày 31/8/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số  37/2018/QĐ-TTg ban hành quy định tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận đạt tiêu chuẩn và bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư; thủ tục xét hủy bỏ công nhận chức danh và miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư. Quyết định có hiệu lực từ ngày 15/10/2018.

Theo đó, so với quy định cũ thì tổng điểm quy đổi của ứng viên tăng gấp đôi và bắt buộc các ứng viên có bài báo đăng trong các tạp chí quốc tế có uy tín. Theo tiêu chuẩn này thì theo lộ trình đến năm 2020, chuẩn về GS của Việt Nam sẽ tiếp cận chuẩn GS của các trường đại học nhóm 200 châu Á. Quy định mới hướng đến thực chất và chất lượng, tạo điều kiện cho các nhà khoa học trẻ tài năng phát triển, coi trọng hoạt động nghiên cứu và công bố các kết quả nghiên cứu trên các ấn phẩm khoa học có uy tín.

Trong quy định mới, tiêu chuẩn đối với các thành viên hội đồng giáo sư cũng nêu chi tiết hơn và đặc biệt có yêu cầu nghiên cứu cập nhật. Cụ thể yêu cầu phải có kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí khoa học quốc tếcó uy tín hoặc xuất bản ở nhà xuất bản có uy tín trong 05 (năm) gần đây. Sự điều chỉnh này hướng đến sự dân chủ và công bằng trong sinh hoạt học thuật giữa tất cả các đối tượng điều chỉnh trong quy định và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của các bên sẽ toàn diện hơn.

Cách tổ chức các hội đồng trong quy định mới cũng đã có sự đổi mới, không cố định suốt nhiệm kỳ 5 năm, mà có thể được điều chỉnh hàng năm, phù hợp yêu cầu thực tế. Chức năng nhiệm vụ của các Hội đồng có sự phân khúc, phân công trách nhiệm rõ ràng và tập trung hơn. Tính chuyên môn, đầu mối và mức độ chuyên nghiệp của các hội đồng cao hơn, không chỉ thuận lợi cho việc triển khai thực hiện nhiệm vụ mà còn cho cả việc hậu kiểm về sau. Tính công khai và dân chủ cũng cao hơn. Đặc biệt, từ Hội đồng cấp nhà nước đến Hội đồng cấp cơ sở đều phải áp dụng CNTT để vừa lưu trữ và công khai hồ sơ ứng viên, vừa để công khai kết quả đánh giá của các cấp.

9.4. Thông tư ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông

Ngày 22/8/2018, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông. Theo đó, chuẩn nghề nghiệp giáo viên gồm 5 tiêu chuẩn với 15 tiêu chí. Tiêu chuẩn 1 - Phẩm chất nhà giáo gồm 2 tiêu chí: Đạo đức nhà giáo và phong cách nhà giáo. Tiêu chuẩn 2 - Phát triển chuyên môn, nghiệp vụ gồm 5 tiêu chí: Phát triển chuyên môn bản thân; xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; tư vấn và hỗ trợ học sinh.

Tiêu chuẩn 3 - Xây dựng môi trường giáo dục gồm 3 tiêu chí: Xây dựng văn hóa nhà trường; thực hiện quyền dân chủ trong nhà trường; thực hiện và xây dựng trường học an toàn, phòng chống bạo lực học đường. Tiêu chuẩn 4 - Phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội gồm 3 tiêu chí: Tạo dựng mối quan hệ hợp tác với cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên liên quan; phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội để thực hiện hoạt động dạy học cho học sinh; phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội để thực hiện giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh. Tiêu chuẩn 5 - Sử dụng ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc, ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục gồm 2 tiêu chí: Sử dụng ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc; ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục.

9.5. Thông tư ban hành quy định chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông

Ngày 20/7/2018, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 14/2018/TT-BGDĐT quy định chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông. Theo đó, chuẩn hiệu trưởng trường phổ thông bao gồm 5 tiêu chuẩn với 18 tiêu chí. Tiêu chuẩn về phẩm chất nghề nghiệp với 3 tiêu chí như thực hiện tốt đạo đức nghề nghiệp, có ảnh hưởng tích cực tới cán bộ quản lý cơ sở, có tư tưởng đổi mới trong lãnh đạo, quản trị nhà trường nhằm phát triển phẩm chất, năng lực cho tất cả học sinh...; có năng lực phát triển chuyên môn, nghiệp vụ bản thân như đổi mới, sáng tạo trong việc vận dụng các hình thức, phương pháp và lựa chọn nội dung học tập, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ bản thân.

Tiêu chuẩn Quản trị nhà trường có 7 tiêu chí. Yêu cầu hiệu trưởng biết lãnh đạo, quản trị các hoạt động trong nhà trường đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, phù hợp với phong cách học tập đa dạng, nhu cầu, sở thích và mức độ sẵn sàng học tập của mỗi học sinh. Tiêu chuẩn Xây dựng môi trường giáo dục yêu cầu hiệu trưởng tạo môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, dân chủ, phòng, chống bạo lực học đường. Tiêu chuẩn Phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình, xã hội yêu cầu hiệu trưởng tổ chức các hoạt động phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong dạy học, giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh và huy động, sử dụng nguồn lực để phát triển nhà trường. Tiêu chuẩn cuối cùng là Sử dụng ngoại ngữ và công nghệ thông tin được đánh giá với 2 tiêu chí về thành thạo những kỹ năng này.

9.6. Thông tư quy định về tài trợ cho các cơ sở thuộc hệ thống giáo dục quốc dân

Ngày 03/8/2018, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư 16/2018/TT-BGDĐT quy định về tài trợ cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Thông tư có hiệu lực từ ngày 18/9/2018 thay thế Thông tư số 29/2012/TT-BGDĐT ngày 10/9/2012.

Theo đó, tài trợ cho giáo dục quy định tại thông tư này là các khoản đóng góp, hỗ trợ tự nguyện không hoàn lại bằng tiền, hiện vật hoặc phi vật chất từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các cơ sở giáo dục. Nguyên tắc vận động, tiếp nhận, quản lý và sử dụng tài trợ phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, công khai, minh bạch, không ép buộc. Các cơ sở không quy định mức tài trợ bình quân, không quy định mức tài trợ tối thiểu, không lợi dụng việc tài trợ cho giáo dục để ép buộc đóng góp và không coi huy động tài trợ là điều kiện cho việc cung cấp dịch vụ giáo dục, đào tạo.

Việc vận động, tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản tài trợ phải được công bố, niêm yết công khai tại cơ sở giáo dục được nhận tài trợ và tuân thủ đúng quy định của pháp luật hiện hành. Các đơn vị chỉ được vận động và tiếp nhận tài trợ để chi tiêu cho trang bị thiết bị, đồ dùng phục vụ dạy và học; thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học; cải tạo, sửa chữa, xây dựng các hạng mục công trình phục vụ hoạt động giáo dục tại cơ sở giáo dục; hỗ trợ hoạt động GD&ĐT và nghiên cứu khoa học trong cơ sở giáo dục.

Không vận động tài trợ để  chi trả thù lao giảng dạy; các khoản chi liên quan trực tiếp cho cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên và nhân viên, các hoạt động an ninh, bảo vệ; thù lao trông coi phương tiện tham gia giao thông của học sinh; thù lao duy trì vệ sinh lớp học, vệ sinh trường; khen thưởng cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; các chi phí hỗ trợ công tác quản lý của cơ sở giáo dục. Căn cứ vào kế hoạch hoạt động năm học và dự toán ngân sách được giao…, cơ sở giáo dục xây dựng kế hoạch vận động tài trợ báo cáo đơn vị quản lý phê duyệt. Quá trình thực hiện kế hoạch sử dụng tài trợ phải tuân thủ đúng mục đích đã đề ra. Cơ sở giáo dục phải lập báo cáo quyết toán công việc hoàn thành và niêm yết công khai để người học và xã hội giám sát, đánh giá. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân và thủ trưởng cơ sở giáo dục nhận tài trợ thực hiện quy trình vận động, tiếp nhận, quản lý và sử dụng tài trợ trái với quy định tại thông tư này thì tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

9.7. Thông tư quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường tiểu học; Thông tư quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học

Ngày 22/8/2018, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 17/2018/TT-BGDĐT quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường tiểu học và Thông tư số 18/2018/TT-BGDĐT quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học (gọi tắt là trường trung học).

Theo đó, trường tiểu học, trường trung học được đánh giá theo 4 mức: mức 1, mức 2, mức 3, mức 4. Có 5 tiêu chuẩn đánh giá cho từng mức: Tiêu chuẩn 1 - Tổ chức và quản lý nhà trường; Tiêu chuẩn 2 - Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh; Tiêu chuẩn 3 - Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; Tiêu chuẩn 4 - Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội; Tiêu chuẩn 5 - Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục. Có từng yêu cầu riêng cho các tiêu chí trong mỗi tiêu chuẩn để đánh giá trường tiểu học, trường trung học.

Quy trình kiểm định chất lượng giáo dục và quy trình công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường tiểu học, trường trung học được thực hiện theo các bước:Tự đánh giá; đánh giá ngoài; công nhận trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia.

Nguồn: Trung tâm truyền thông Bộ Giáo dục và Đào tạo

Tin khác

Lịch công tác

Owl Image Quản lý Văn bản
Owl Image Văn bản Bộ GD và ĐT
Owl Image @moet.edu.vn
Owl Image @haugiang.edu.vn
Owl Image
Hướng dẫn thi THPT
QG và TS ĐHCĐ

Thông báo

Văn bản mới

Owl Image Hệ thống QLGD
Owl Image PCGD - CMC
Owl Image Họp trực tuyến
Owl Image Trường học kết nối

Liên kết website

Owl Image Trường TC Luật Vị Thanh
Flag Counter